Trang chủ / Văn hóa Trung Quốc / Phong tục, tập quán Trung Quốc / Tam tự kinh bài 11: 我姬公 NGÃ CƠ CÔNG – 曰国风 VIẾT QUỐC PHONG

Tam tự kinh bài 11: 我姬公 NGÃ CƠ CÔNG – 曰国风 VIẾT QUỐC PHONG

我姬公 NGÃ CƠ CÔNG

Xem lại bài 10: 孝经通 HIẾU KINH THÔNG – 有连山 HỮU LIÊN SƠN

作周礼。 TÁC CHÂU LỄ.
着六典, TRỨ LỤC ĐIỂN,
存治体。 TỒN TRỊ THỂ.
大小戴, ÐẠI TIỂU ĐÁI,
注礼记。 CHÚ LỄ KÝ.
述圣言, THUẬT THÁNH NGÔN,
礼乐备。 LỄ NHẠC BỊ.

Tam tự kinh bài 11

Video Tam tự kinh bài 11: 我姬公 NGÃ CƠ CÔNG

Dịch nghĩa

Ông Cơ công [2], làm kinh Châu Lễ, bày ra sáu điển [3], giữ còn cái thể thống trị nước. Họ Đái lớn, nhỏ chú kinh Lễ ký [4], thuật lời nói của đức Thánh, lễ, nhạc đủ hết. ________________

[2] Ông họ Cơ tên Đán, con trai thứ tư của vua Văn Vương nhà Châu, tức Châu công, vì ông làm trủng tể (tể tướng), được phong tước Châu công…

[3] Ông làm kinh Châu lễ, đặt ra 6 quan khanh coi 6 điển: lại, hộ, binh, hình, công, là thể thống trị nước.

[4] Nhà nho đời Hán là Đái Đức và con nhà anh của Đức là Đái Thánh (vì hai chú cháu trong nhà, nên người ta kêu phân biệt là Đái lớn và Đái nhỏ), đồng chú thích kinh Châu lễ kêu là kinh Lễ ký.

曰国风 VIẾT QUỐC PHONG

曰雅颂。 VIẾT NHÃ TỤNG.
号四诗, HIỆU TỨ THI,
当咏讽。 ÐƯƠNG VỊNH PHÚNG.
诗既亡, THI KÝ VONG,
春秋作。 XUÂN THU TÁC.
寓褒贬, NGỤ BAO BIẾM,
别善恶。 BIỆT THIỆN ÁC.

Video Tam tự kinh bài 11: 曰国风 VIẾT QUỐC PHONG

Giải nghĩa

Quốc phong, Tiểu nhã, Đại nhã, Tụng, kêu là bốn thể thi nên ngâm nga, đọc trầm đọc bổng.

Kinh Thi đã bỏ bớt đi , đức Khổng làm ra kinh Xuân thu,ngụ ý khen, chê, phân biệt điều lành, điều dữ.

________________

Kinh Thi là bộ sách chép các bài thơ của đời Thương, Châu, tất cả 3000 thiên, đức Khổng tử san lại, còn 315 thiên, tóm lại có bốn thể: Quốc phong là thơ phong tục các nước chư hầu; Tiểu nhã, Đại nhã là thơ nhạc ca trong triều đình, Tụng là nhạc ca tế tông miếu nhà vua.

Bốn thể thi là: 1. Quốc phong, 2. Tiểu nhã, 3. Đại nhã, 4. Tụng. Bốn thể ấy nên đọc bằng cách ngâm nga, có trầm có bổng.

Các bài thi thì nhiều lắm, nhưng đức Khổng tử chỉ lượm lấy 315 thiên có ý nghĩa khuyên
lành, răn dữ, làm một bộ kinh Thi mà thôi, còn thì đều san bỏ đi, cho nên nói là bỏ bớt, mất (vong).

Xuân thu là tên sách sử của nước Lỗ (nước quê nhà đức Khổng), đức Khổng nhân đó sửa lại làm bộ kinh Xuân thu, chép truyện trong đời Đông Châu từ năm Kỷ Mùi (722 trước Dương lịch) sau khi vua Châu Bình Vương dời kinh đô qua đất Lạc tại phía Đông, cho tới năm Canh Thân (481 trước Dương lịch, nhằm năm thứ 39 đời vua Kính Vương nhà Châu), vua nước Lỗ đi săn phía tây bắt được con lân, cả chuyện nhà Châu và các nước chư hầu, mà lấy nước Lỗ làm chủ, khen sự lành, chê sự dữ, để làm gương khuyên răn đời sau.

***Xem tiếp Tam Tự kinh bài 12: 三传者 TAM TRUYỆN GIẢ – 五子者 NGŨ TỬ GIẢ

Chúc các bạn học tốt tiếng Trung. Cám ơn các bạn đã ghé thăm website của chúng tôi !

Nguồn: www.chinese.com.vn
Bản quyền thuộc về: Trung tâm tiếng Trung Chinese
Vui lòng không copy khi chưa được sự đồng ý của tác giả

Hỏi đáp trực tuyến

avatar