Trang chủ / Văn hóa Trung Quốc / Thiên Tự văn Bài 1: Thiên địa huyền hoàng

Thiên Tự văn Bài 1: Thiên địa huyền hoàng

Thiên Tự văn Bài 1: Thiên địa huyền hoàng là 1 trong 25 bài viết trong bộ sách hán ngữ cổ Trung Quốc Thiên Tự Văn và là một trong những cuốn sách dạy vỡ lòng của người xưa thuộc cấp “Tiểu học”của người Trung Quốc.

Thiên Tự văn Bài 1: Thiên địa huyền hoàng

天地玄黃,宇宙洪荒 Thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang.

日月盈昃,辰宿列張 Nhật nguyệt doanh trắc, thần tú liệt trương.

寒來暑往,秋收冬藏 Hàn lai thử vãng, thu thâu đông tàng.

閏餘成歲,律呂調陽 Nhuận dư thành tuế, luật lữ điệu dương.

雲騰致雨,露結為霜 Vân đằng trí vũ, lộ kết vi sương.

Giải nghĩa

Thiên địa huyền hoàng

Vũ trụ hồng hoang

Nhật nguyệt doanh trác

Thần Tú liệt trương

Tạm dịch là:

Trời đất mù mịt giữa đen vàng

Vũ trụ hoang vu nước ngập tràn

Đứng xế, mặt trờ theo bóng dáng

Vơi, đầy, vầng nguyệt vơi thời gian

Các vì tinh tú như bầy xếp

Phân định đặt tên đã rõ ràng

Chú giải:

– Huyền: màu đen. Huyền, Hoàng nói về màu sắc của trời đất

– Hồng: to, lớn. ở đây nói về nước lớn, hồng thủy. Hoang, tức là hoang vu, cổ cây mọc um tùm. Hồng hoang tức là nói về trạng thái hỗn độn, tối tăm mù mịt

– Doanh: Mặt trăng tròn gọi là doanh

– Trắc: Quá trưa mặt trời đã xế bóng về tây

– Thần: Mặt Trời, mặt Trăng cùng gặp nhau gọi là thần, hay còn gọi tên chung các vì sao.

– Tú: Có nghĩa là ngừng lại. Các vị trí của các vì sao gọi là tú.

– Liệt trương: Bày biện, sắp xếp, phân bổ rải rác khắp bầu trời.

Dịch theo lời giải:

Khi mới khai thiên lập địa, thế giới ra đời, thì Trời là màu đen, đất là màu vàng. Trong khoảng trời đất bao la, nước dâng lên tràn ngập, cỏ cây um tùm, một dải hỗn độn.

Khi thế giới ra đời như thế nào? Lúc ấy không có văn tự ghi chép lại, nên cũng chẳng có ai nói lại được rõ ràng. Song hàng ngàn năm nay, các dân tộc có rất nhiều truyền thuyết khác nhau về khai thiên lập địa, nó rõ nguyên nhân của thế giới. Trung Hoa thì nói: Khi đất trời chưa mở ra, trên thế giới chỉ là một mảng hỗn độn giống như một quả trứng gà khổng lồ. Trong quả trứng gà này đã thai nghén một người khổng lồ, tên ông ta là Bán Cổ. Một hôm ông ta tỉnh dậy, nâng mạnh một cái, tách ra được một ít giữa trời với đất, rồi ông vung mạnh lưỡi búa lớn lên, bổ vào chỗ cồn dính liền giữa trời và đất.Sau khi bổ xong, cái gì nhẹ thì bốc lên, đó chính là trời, cái gì nặng thì đi xuống, đó chính là đất. Khi mới tách chia ra trời và đất, khắp nơi hơi sương mù mịt, ánh sáng của mặt trời khó soi rọi xuống mặt đất, cho nên nhìn trời lúc ấy chỉ là màu đen âm u.

Tại sao lại gọi là vũ trụ? Trong bộ sách “Hoài Nam Tử” của Trung quốc có nói rằng: Trên dưới bốn phương gọi là Vũ. Từ xưa đến nay gọi là Trụ. Nhà khoa học Anh – stanh cho rằng: Vũ trụ chính là không ian cộng với thời gian. Điều đó hoàn toàn hợp lý.

Thời gian không có cái mở đầu và cái kết thúc. Còn không gian thì sao? Ngoài trời đất ra còn có cái lớn vô cùng, vô biên không có cái gì đánh giá và lường tới được. Từ thời thượng cổ đâu đâu cũng chỉ là một vùng hoang vu lạnh lẽo, không có sinh mệnh, không có dấu vết của con người.

Mặt Trời mặt Trăng vận hành trong bầu trời. Mặt Trời mọc, mặt trời nặn. Mặt Trăng tròn, mặt trăng khuyết, đều có qui luật nhất định. Còn các vì sao có tên gọ khác nhau, đều được gọi theo vị trí của những vì sao đó bày biện, sắp xếp, phân bố rải rác trong bầu trời mênh mông bao la.

Quy luật về sự phát triển của Trời của con người và muôn vật thế gian là thống nhất. Đó chính là đạo lý của thiên nhân hợp nhất. Ví dụ mặt trời có lúc thịnh có lúc suy, mặt trăng có khi đầy khi khuyết, thế gian của con người cũng vậy, dù là người hay việc, thịnh quá rồi cũng sẽ tới chỗ suy, trái lại, quá suy rồi cũng đi tới chỗ thịnh. Cái khuyết rồi sẽ đầy, cái đầy rồi sẽ khuyết đi. Trong đây đã bao hàm một đạo lý đối lập thống nhất đó sao?

Các vì sao tinh tú, thiên văn học cổ đại đã phân chia thành 28 khu, gọi là nhị thập bát tú (28 vì sao), quan sát các vị trí các vì sao trên trời để xác định tiết khí của bốn mùa (một trong 24 tiết trong một năm, theo lịch á Đông). Còn Nhị thập bát tú là: Bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc mỗi phương có 7 vì sao như: Phương Động: Giốc, Khanh, Thị, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ. Phương Bắc: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích. Phương Tây: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, thủy, Sâm. Phương Nam:Tỉnh, Quỉ, Liễu, tinh, trương, Dực, Chẩn.

Giải nghĩa

Hàn lai Thử Vãng

Thu thu Đông tàng

Nhuận dư Thành tuế

Luật lã điều dương

Tạm dịch là:

Rét đến rồi đi nóng tiếp sang

Tiết thu gặt hái một mùa màng

Đông thì cất giữ lương ăn đủ

Cho tới xuân về dạ mới an

Năm nhuận tháng ngày dư cộng lại

Điều hòa Luật lã ống âm dương

Chú giải:

Hàn: Là nghiêm Đông, mùa Đông giá rét căm căm

Thử: Là thịnh Hạ, Màu Hè nắng nóng dữ dội

Thu thu: Chữ Thu thứ nhất là mùa Thu, chữ thu thứ hai là thu hoạch, thu hái, gặt hái.

Tàng: Là cất giữ, lưu giữ, bảo tồn.

Nhuận dư: là số ngày thừa trong một năm, là sai số thời gian của lịch pháp ghi hàng năm của trái đất quay quanh mặt trời. Cứ cách mấy năm lại điều chỉnh ngày nhuận, tháng nhuận

Luật lã: Là dụng cụ để hiệu chỉnh âm luật của đời xưa, được làm bằng 12 ống trúc khác nhau.

Điều dương: Là điều tiết âm dương

Dịch theo lời giải:

Câu 1:Hàn lai Thử Vãng

Một năm có 4 mùa. Vẫn là mùa Đông giá lạnh đến rồi lại qua đi. Mùa Hạ qua đi rồi trở lại

Câu 2: Thu thu Đông tàng

Mùa màng gieo trồng ngoài đồng ruộng, thường thu hoạch gặt hái vào mùa Thu. Mùa Đông thì cất giữ, lưu giữ, bảo tồn.

Một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn mùa này cứ hết rồi lại bắt đầu, nối tiếp nhau có quy luật. Do ôn độ và mặt Trời soi rọi khác nhau, đã hình thành sự biến hóa nóng lạnh. Người xưa nói: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng. Đó là những kinh nghiệm đã được người xưa tổng kết.

Câu 3. Nhuận dư Thành tuế.

Người ta cộng số ngày thừa ra trong mỗi năm, khi đủ một tháng thì lại cộng vào một năm nào đó để thành một tháng nhuận.

Câu 4. Luật lã điều dương.

Lại dùng một dụng cụ có tên là Luật Lã để phân biệt âm thanh trong đục (thanh trọc) cao thấp, điều hòa âm dương, khiến cho tháng và quí điều hòa lẫn nhau. Tương truyền lịch pháp của Trung Quốc được sáng lập ra từ đời nhà Hạ, nên gọi là Hạ lịch. Vì lịch này thích hợp với sự canh tác của nông dân, cho nên còn gọi là nông lịch (Lịch nhà nông).

Nông lịch của Trung quốc lấy mặt Trăng xoay quanh Trái đất một vòng làm thành một tháng, Trái đất quay quanh mặt Trời một vòng làm một năm. Một năm có 12 tháng, trong 12 tháng có tháng đủ và tháng thiếu, tháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày, cả năm có 354 ngày. Nhưng thực tế Trái đất quay quanh mặt Trời một vòng là 365 ngày, như vậy là một năm thừa ra 11 ngày. 3 năm thừa ra 33 ngày, 5 năm thừa ra hơn 2 tháng, nếu là 8 năm thì phải thừa ra hơn 3 tháng. Và lúc này khí hậu đã bước sang mùa Hạ, mà nhật lịch vẫn là ở mùa xuân. Người ta tính sau 17 năm, thừa ra 6 tháng thì mùa Đông vừa vặn thay đúng vào mùa Hạ. Như vậy, rõ ràng là không được. Vậy là người làm ra lịch pháp liền sửa đổi thêm, quy định trong 3 năm phải có một năm nhuận, trong năm nhuận ấy có 13 tháng, như vậy khiến cho tên gọi và thực tế phù hợp với nhau.

Sau khi đã xác định được 4 mùa, còn sợ có sai sót, người ta dùng Luật Lã xác định âm điệu để trắc lượng âm dương của 12 tháng. Luật Lã làm bằng 12 ống trúc dài ngắn khác nhau. 6 ống điều về dương gọi là Luật, 6 ống điều về âm gọi là Lã. Theo truyền thuyết, người ta đặt ống Luật và ống Lã lên bàn, lấy màng mỏng trong ống lau sậy đốt thành tro rồi bỏ vào trong ống Luật Lã, khi gặp thời tiết tương ứng thì tro trong ống nhạc bay ra. Dùng phương pháp này đối chiếu sửa lại kết quả thì sẽ không có sai lầm.

Video Thiên Tự văn Bài 1

***Xem tiếp bài 2: Kim sanh Lệ Thủy

Chúc các bạn học tốt tiếng Trung. Cám ơn các bạn đã ghé thăm website của chúng tôi

Nguồn: www.chinese.com.vn
Bản quyền thuộc về: Trung tâm tiếng Trung Chinese
Vui lòng không copy khi chưa được sự đồng ý của tác giả

Hỏi đáp trực tuyến

avatar